So sánh hình ảnh người lính cách mạng qua bài thơ Đồng chí (Chính Hữu) và bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật)

So sánh hình ảnh người lính cách mạng qua bài thơ Đng chí (Chính Hữu) và bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật)

Hướng dẫn

Loading...

I. Mở bài

– Dân tộc ta đứng lên tiến hành hai cuộc chiến tranh cách mạng oanh liệt chống Pháp và chống Mỹ. Lẽ tất nhiên, ở đất nước hơn ba mươi nămchưa rời tay súng. Hình ảnh anh “Bộ đội cụ Hồ” là hình ảnh “con người đẹp nhất” đáng yêu nhất trong văn thơ và là niềm tự hào lớn của dân tộc.

– Cùng với nhiều bài thơ khác, bài thơ “Đồng chí” sáng tác vào đầu năm 1948 khi tác giả Chính Hữu chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc, bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” sáng tác năm 1969, khi tác giả Phạm Tiến Duật tham gia họat động ở tuyến đường Trường Sơn đã khắc họa thành công về đề tài người lính.

– Hình tượng anh bộ đội được ghi lại trong hai bài thơ đã lưu giữ trong văn chương Việt Nam hai gương mặt đẹp, đáng yêu của người lính trong hai thời kì lịch sử.

II. So sánh

1. Những điểm chung

Đây là người lính của nhân dân nên họ cùng mang những vẻ dẹp chung:

– Yêu nước, yêu quê hương yêu đồng chí:

+ Có thể phân tích các câu thơ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” (Đồng chí) và “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước” (Bài thơ về tiểu đội xe không kính).

+ Có thể phân tích cử chỉ nắm tay chất chứa bao tình cảm không lời trong cả hai bài thơ thể hiện sự gắn bó đồng chí

– Vượt qua mọi khó khăn gian khổ để quyết tâm tiêu diệt giặc hoàn thành nhiệm vụ:

+ Tất cả những khó khăn gian khổ, thử thách được tái hiện bằng những chi tiết hết sức thật, không né tránh tô vẽ trong cả hai bài thơ.

+ Thế mà, các chiến sĩ đều có một tư thế ngoan cường “chờ giặc tới”, “ung dung nhìn thẳng”.

– Lạc quan tin tưởng: Cả hai bài thơ đều thể hiện tinh thần lạc quan của người lính. Từ “miệng cười buốt giá” của anh bộ đội kháng chiến chống Pháp đến “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” của anh lính lái xe thời chống Mĩ đều thể hiện tinh thần lạc quan, khí phách anh hùng.

2. Những điểm riêng khác nhau

– Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu thể hiện người lính nông dân thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà sâu sắc. Tình đồng chí thiêng liêng hòa quyện khi lí tưởng chiến đấu đã rực sáng trong tâm hồn.

“Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí!”

– Bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật thể hiện người lính lái xe trong cuộc kháng chiến chống Mĩ với vẻ đẹp trẻ trung, ngang tàng. Đây là thế hệ những người lính có học vấn, có bản lĩnhchiến đấu, có tâm hồnnhạycảm, có tính cách riêng mang chất “lính” đáng yêu. Họ tất cả vì miền Nam ruột thịt với trái tim yêu nước cháy bỏng.

“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

III. Kết luận

– Hình tượng người lính dù ở thời kì kháng chiến chống Pháp hay kháng chiến chống Mĩ đều mang phẩm chất cao đẹp của “anh bộ đội cụ Hồ” thời đại đã cung cấp cho các nhà thơ nhưng nguyên mẫu đẹp đẽ, họ tạo nên những hình tượng làm xúc động lòng người.

– Viết về những người lính, các nhà thơ nói về chính mình và những người đồng đội của mình. Vì thế, hình tượng người chân thật và sinh động.

Vẻ đẹp của hai hình tượng người lính thời kì kháng chiến chng Pháp trong bài thơ Tây Tiếncủa Quang Dũng và Đng chí của Chính Hữu.

Bài làm

Người lính là hình tượng trung tâm trong văn học kháng chiến, ở mỗi thời kì lịch sử của mỗi cuộc chiến tranh, người lính trong đời sống thực tế cũng như trong thơ ca đều có những nét khác nhau. Đầu cuộc kháng chiến chống Pháp có hai loại người lính: một là người lính xuất thân từ nông dân như trong bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên, Cá, nước của Tố Hữu, Đồng chí của Chính Hữu; hai là người lính xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản thành thị (hồi đó có phong trào xếp bút nghiên lên đường tranh đấu) như Tây Tiến của Quang Dũng. Cả hai đều cùng chung lí tưởng yêu nước giết giặc, cùng thể hiện tinh thần xảthân vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Người lính trong bài thơ Tây Tiến được xây dựng bằng cảm hứng lãng mạn. Bút pháp lãng mạn thường thể hiện bằng cái phi thường. Khung cảnh hoạt động của người lính là khung cảnh phi thường:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Những độ cao, những vực thẳm, những heo hút chỉ tăng vẻ hào hùng cho người lính chứ không đe dọa người lính. Thiên nhiên còn ẩn chứa cả những bí mật, những hiểm nguy:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người.

Hình tượng người lính cũng thật là phi thường. Người lính Tây Tiến gần với người hiệp sĩ vì nghĩa lớn, nhưng họ là những con người bằng xương bằng thịt đang chiến đấu gian khổ trong những ngày đầu kháng chiến.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Diễn tả những gian khổ của người lính ở rừng rất chân thật, thiếu ăn, thiếu thuốc sốt rét… đến nỗi rụng hết tóc. Nhưng bút pháp lãng mạn không lam yếu người lính mà càng oai hùng đầy tự hào.

Cái chết cũng bi hùng, đượm tinh thần hi sinh của hiệp sĩ:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Người lính Tây Tiến mang theo nét hào hoa của những thanh niên Hà Nội đi chiến đấu thời bấy giờ – trong đó có Quang Dũng. Tình quân dân cũng nhuốm màu sắc lãng mạn:

Doanh trại bừng lèn hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.

Con người như lạc vào thiên nhiên mơ mộng, lạc vào xứ lạ, phương xa thường thấy trong cảm hứng lãng mạn.

Giấc mơ của người lính cũng là giấc mơ của những thanh niên Hà Nội tràn đầy tinh thần lãng mạn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu được tác giả viết với bút pháp hiện thực. Người lính hiện lên với tất cả các dáng vẻ chất phác lam lũ của người nông dân mặc áo lính. Họ là người của tứ xứ, của những làng quê nghèo đói gặp nhau trong lí tưởng cứu nước:

Quêhương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

Từ tình yêu giai cấp, họ đã nâng lên thành tình đồng chí, một tình cảm mới mẻ:

Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí!

Tấm chăn đắp lại thì tâm tư họ mở ra, họ hiểu rõ hoàn cảnh của nhau:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay.

Ởngoài chiến trường mà nghe rõ gió lung lay từng gốc cột của ngôi nhà mình, người lính thương yêu gia đình, quê hương biết bao nhiêu, nhưng trước hết họ phải vì nghĩa lớn. Về tinh thần hiệp sĩ này họ lại rất gần với người lính Tây Tiến.

Họ sẵn sàng chịu đựng những gian khổ tột cùng của cuộc kháng chiến:

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài miếng vá

Nụ cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Tình đồng chí đã nuôi dưỡng tâm hồn của những người lính và họ đã biến nó thành sức mạnh chiến đấu.

Bút pháp miêu tả cũng khác nhau. Một chi tiết trong thơ: Chiếc áo Quang Dũng nói là áo bào có tính chất hiệp sĩ còn Chính Hữu nói áo anh rách vai rất hiện thực.

Từ tình thương yêu giai cấp, họ đã cùng vươn lên đỉnh cao của tình đồng chí:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Chung nhau một cái chăn là một cặp đồng chí; áo anh rách vai, quần tôi có vài miếng vá là một cặp đồng chí; đêm nay giữa rừng hoang sương muối đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới là một cặp đồng chí. Lạ thay, súng và trăng cũng là một cặp đồng chí: Đầu súng trăng treo.

Cặp đồng chí này nói về cặp đồng chí kia, nói được cái cụ thể và gợi đến vô cùng. Súng và trăng, gần và xa, Tôi với anh hai người xa lạ, Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng và trăng cứng rắn và dịu hiền. Súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ. Súng và trăng là biểu hiện cao cả của tình đồng chí.

Sự kết hợp yếu tố hiện thực tươi rói với tinh thần lãng mạn cách mạng là vẻ đẹp riêng của hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

Bài làm

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, nước ta đã giành được độc lập. Nhưng thực dân Pháp quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi toàn dân kháng chiến chống giặc Pháp xâm lược (1946). Nhân dân ta hưởng ứng lời hịch cứu nước đã tập hợp nhau lại và tình cảm mới nảy nở: tình đồng chí. Nhà thơ Chính Hữu, với sự nhạy cảm của tâm hồn nghệ sĩ đã sáng tác bài thơ Đồng chí (1948) để ca ngợi tình cảm tốt đẹp, cao quý của những người lính kháng chiến. Bài thơ đã được truyền tụng, được ca hát và trở thành một trong những bài thơ nổi tiếng nhất trong nền thơ ca hiện đại của nước nhà.

Bài thơ có kết cấu lạ. Hai chữ Đồng chí đứng riêng thành một dòng thơ, gần như ở giữa bài thơ, riết cái thân bài thơ thành một cái lưng ong(tác giả Chính Hữu gọi là Hình bó mạ). Nửa trên là một mảng quy nạp (như thế là đồng chí), nửa dưới là một mảng diễn dịch (đồng chí là như thế này nữa). Một cấu trúc chính luận cho một bài thơ trữ tình không lạ lắm sao.

Chủ đề đồng chí hiện lên trên từng cấu trúc ngôn ngữ, nghĩa là trong từng tế bào thơ.

Tôi với anh khi thì xếp dọc:

Quê hương anh nước mặn đồng chua.

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Khi thì xếp ngang (đều là hàng ngũ của lính):

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

khi thì điệp điệp:

Súng bên súng, đầu sát bên đầu.

Đến đêm rét trùm chung một cái chăn (vì hồi đó bộ đội rất thiếu thốn) thì nhập lại thành đồng chí.

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!

Cái chăn đắp lại thì tâm tư mở ra. Họ soi vào nhau. Anh hiểu tôi. Tôi hiểu đến nỗi lòng sâu kín của anh:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc gió lung lay.

Giải thích sao đây hai chữ mặc kệ? Có gì giống với thái độ này không:

Người đi, ừ nhỉ, người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say.

(Tống biệt hành – Thâm Tâm)

Không! Nó đâu có khinh bạc và phiêu du như thế. Ở ngoài mặt trận mà biết gió lay từng gốc cột của ngôi nhà mình thì không còn chữ nào để diễn tả nổi tình cảm thiết tha của họ đối với gia đình. Nhưng trước hết phải vì nghĩa lớn. Thái độ nghĩa hiệp ấy gần giống với Hồng Nguyên (tác giả bài thơ Nhớ nổi tiếng), gần với Trần Mai Ninh (tác giả bài thơ Tình sông núi rất hay) trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp; gần với Lê Anh Xuân (tác giả bài thơ Dáng đứng Việt Nam một kiệt tác), Nguyễn Mĩ (tác giả bài thơ Thưa mẹ trái tim, bi tráng và cảm động)… trong kháng chiến chống Mĩ.

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay.

Là nhà thơ của một tâm hồn hiệp sĩ mà cũng là sử thi của một thời gian khổ và oanh liệt.

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Nói lên những nỗi gian khổ của cuộc kháng chiến, nhưng không phải tác giả định kể khổ mà chỉ cốt để khắc đậm thêm tình đồng chí. Không phải cái khổ mà là sự đồng khổ mới là điều đáng nói ở đây (Anh với tôi.., Áo anh… Quần tôi…). Và điều gì đã tạo ra sức mạnh như phép lạ cho những người lính vượt qua những gian truân khổ ai đó? Điều đã tạo ra sức mạnh như phép lạ đó chính là tình đồng chí. Gian khổ không làm tắt nụ cười trên mỗi người chiến sĩ: Miệng cười buốt giá.

Trong thơ kháng chiến, ta đã từng gặp những nụ cười tràn đầy lạc quan như thế:

Lũ chúng tôi

Bọn người tứ xứ.

Trời lạnh, ở rừng núi mà chân không giày thì tội lắm, thương lắm! Biết làm sao? Chỉ còn tình đồng chí sưởi ấm họ:

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Nắm đôi bàn tay mà ấm cả đôi chân (không giày), chỉ có tình đồng chí mới tạo ra được phép lạ đó!

Họ hiểu nhau đến chiều sâu như thế là để nương tựa vào nhau mà đi đến chiều cao này:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Chung nhau một cái chăn là một cặp đồng chí, áo anh rách vai, quần tôi có vài miếng vá là một cặp đồng chí, nắm đôi bàn tay mà ấm cả đôi bàn chân là một cặp đồng chí, và đêm nay giữa rừng hoang sương muối đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới là một cặp đồng chí, là đỉnh cao của tình đồng chí. Vì nếu đêm nay giữa rừng hoang sương muối mà anh hoặc tôi không đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới thì mọi hành vi thân ái kia, như chung chăn, như áo rách quần vá, thương nhau tay nắm lấy bàn tay còn có ý nghĩa gì? Câu thơ này có một từ bình thường nhưng không thay thế được đó là từ đứng. Có một nhạc sĩ đã phổ nhạc bài thơ này và sửa lại thành ngồi. Đứng là thường trực chiến đấu mà ngồi là nghỉ ngơi. Với lại từ đứng có âm đ cứng, thanh trắc (dấu sắc) mạnh phô diễn được sức mạnh của tình đồng chí ở đỉnh cao.

Nói như thế, nhà thơ cảm thấy hãy còn hữu hạn nên đã chọn một biểu tượng cho cái vô cùng của tình đồng chí: Đầu súng trăng treo.

Lãng mạn thay, súng và trăng cũng là một cặp đồng chí! Cặp đồng chí này (súng và trăng) nói về cặp đồng chí (tôi và anh), nói được cái cụ thể và gợi đến vô cùng. Súng và trăng, gần và xa: Anh với tôi đôi người xa lạ, Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng và trăng, cứng rắn và dịu hiền: súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ; súng và trăng là biểu hiện cao cả của tình đồng chí.

Sự kết hợp yếu tố hiện thực tươi rói với tính chất lãng mạn trong trẻo là màu sắc mới mẻ mà Chính Hữu đã sớm mang lại cho thơ ca kháng chiến, thi ca cách mạng.

Hình ảnh người lính trong thơ ca những năm đầu kháng chiến chống Pháp.

Bài tham khảo

Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ thường được phản ánh rất đậm nét trong thơ ca. Đó là hình tượng những người lính có những vẻ đẹp khác nhau. Có khi hình tượng đó được xây dựng theo bút pháp lãng mạn, có khi lại được xây dựng theo bút pháp hiện thực. Nhưng dù được xây dựng theo bút pháp nào, tất cả đều có nét đẹp chung rất cơ bản. Ấy là những con người dũng cảm, anh hùng, sẵn sàng hi sinh cả tính mạng của mình cho Tổ quốc và có sức động viên lớn đối với nhân dân ta trong chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng gian khổ và ác liệt.

Tuy nhiên, mỗi hình tượng lại có những nét đẹp riêng. Tinh thần chiến đấu hi sinh và chất anh hùng ở mỗi hình tượng lại có những biểu hiện rất khác nhau.

Đọc “Tây tiến” – bài thơ được viết theo bút pháp lãng mạn nên hình ảnh người lính trong “Tây tiến” xuất hiện trong một bối cảnh hoang vu, hiểm trở, vừa hùng vĩ, vừa dữ dội khác thường:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Một hình thể gập ghềnh, cheo leo của dốc núi được tạo ra bởi những thanh trắc và cách dùng chữ rất bạo; nào là “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, “súng ngửi trời”… Rồi đột nhiên, dòng thơ như bị bẻ đôi để vẽ ra hai dốc núi vút lên và đổ xuống gần như thẳng đứng: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, rồi bỗng dưng, dòng thơ như bay ngang lưng trời bởi một câu thơ độc đáo toàn thanh bằng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Trong khung cảnh đó, ta tưởng tượng những người lính đang tạm dừng chân nơi những sườn núi chênh vênh, phóng tầm mắt ra xa, thấy nhà ai thấp thoáng ẩn hiện qua một không gian mịt mù sương rừng, mưa núi… Và bất chợt, trên cái nền hiểm trở và hùng vĩ đó, những người lính “Tây tiến” xuất hiện cũng thật oai phong và dữ dội khác thường:

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới…

Từ một thực tế gian khổ của người lính do thiếu thốn và bệnh sốt rét rừng hành hạ, da dẻ xanh xao, đầu trụi cả tóc nhưng dưới ngòi bút lãng mạn của nhà thơ đã biến thành bức chân dung lẫm liệt oai hùng. Đặc biệt hình tượng người lính trong “Tây tiến” phảng phất bóng dáng của người anh hùng theo kiểu những hình tượng các chinh phu, tráng sĩ cưỡi ngựa vung gươm, áo bào đỏ thắm, phong độ hào hoa, ra đi không hẹn ngày về trong thơ ca lãng mạn trước năm 1945. Vâng, nhà thơ Quang Dũng đã khắc họa hình tượng người lính trong “Tây tiến” như vậy.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Rồi ngay cả hình ảnh những người lính trong sinh hoạt và trong chiến đấu trong những hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn, phần thì chết vì sốt rét, phần thì chết vì chiến trận, lúc chôn cất có khi manh chiếu che thân cũng không có. Nhưng dù thế, hình tượng người chiến sĩ trong thơ vẫn phải đẹp, phải sang, phải hào hùng:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Nói đến cái bi mà không lụy, vẫn đẹp và hào hùng, bài thơ quả có màu sắc bi tráng độc đáo. Ngoài ra, hình tượng người lính trong Tây tiến còn có thêm vẻ đẹp khác. Đó là nét hào hoa thanh lịch, chất thơ mộng lãng mạn:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lèn man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên-chăn xây hồn thơ.

Một tiếng reo thầm đầy vui sướng trước người đẹp trong xiêm áo độc đáo của vũ nữ dân tộc Lào. vẻ đẹp đó càng rực rỡ hơn trong đêm liên hoan…

Khác với “Tây tiến”, hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu được miêu tả dưới một bút pháp hiện thực. Người lính xuất hiện trong bài thơ không trên một bối cảnh khác thường, mà đặc biệt xuất hiện trong môi trường quen thuộc, bình dị thường thấy ở các làng quê còn đói nghèo xơ xác hồi ấy:

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

Mà làng quê Việt Nam xưa nơi nào chẳng có giếng nước gốc đa, nơi người dân quê gặp gỡ nhau hàng ngày. Đó còn là nơi “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”, ở đây, tác giả cũng không che giấu mà trái lại còn nhấn mạnh đến cái nghèo đói và lam lũ của họ:

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày.

Nhưng vẻ đẹp của người lính ở đây là tình đồng chí, tình đồng đội, gắn với tình giai cấp giữa những người nông dân mặc áo lính. Họ gần gũi nhau vì cùng ra đi từ một làng quê đói nghèo. Trong kỉ niệm của họ, cũng cảnh đồng ruộng, cũng những túp lều tranh “gió lung lay”… Và khi trở thành người lính, họ lại gặp nhau trong hoàn cảnh thiếu thốn lam lũ của người lính, cũng chẳng khác hoàn cảnh của những người dân cày bao nhiêu. Cái gần gũi, cái giống nhau, cái thống nhất là điều được nhấn mạnh hơn là cái đặc biệt, cái phi thường. Và sự thống nhất cao hơn cả là tình đồng chí. Đây là tình cảm lớn khiến cho những người “xa lạ”, từ những phương trời “chẳng hẹn quen nhau”, bỗng chốc thành thân thiết, thậm chí, thành đôi tri kỉ. Đó cũng chính là sức mạnh tinh thần to lớn khiến họ rời bỏ ruộng nương, gia đình, coi thường mọi gian khổ, hi sinh. Vâng, với họ, chỉ cần “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” là đủ hơi ấm để chống chọi với những cơn sốt run người, với những ngày buốt giá và cả với giặc thù.

Rồi còn đó những người chiến sĩ “Lên cấm Sơn” (Thôi Hữu), là những người luôn vươn lên để chiến thắng. Chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng bệnh tật, chiến thắng quân thù. Sông kham khổ nơi rừng núi hiu quạnh nhưng vẫn vui và luôn đem lại ánh sáng, nhịp sống mới cho bản làng. Vậy đó, ở đâu có người lính là ở đó có niềm vui. Còn bài “Nhớ” của Hồng Nguyên miêu tả những chiến sĩ trẻ, cuộc đời lưu động nhưng đầy lạc quan trong sáng. Những ngày đầu kháng chiến, bộ đội ta rất nghèo, thiếu thốn đủ thứ. Về văn hóa thì “chưa biết chữ”, về quân sự thì “súng bắn chưa quen”… nhưng “lòng vẫn cười vui”.

Hình ảnh anh bộ đội trong thơ lúc bấy giờ thật đẹp. Họ thật sự là những người anh hùng nhưng không có vẻ gì là anh hùng, là oai phong lẫm liệt cả. Sức mạnh lớn nhất của họ là tình đồng chí, là lòng yêu nước. Nhờ vậy mà khi có giặc, khi cần thiết là họ lại “đứng bên nhau chờ giặc tới”…

Nguyễn Thị Thọ

Phân tích hình ảnh Đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

Bài làm

Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. Ở truyền thuyết Chú cuội cung trăng hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. Hơn thế nữa, trăng đã đi vào cuộc chiến đấu, trăng bảo vệ xóm làng, trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh dầu súng trăng treo rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình.

Sau hơn mười năm làm thơ, Chính Hữu cho ra mắt tập Đầu súng trăng treo. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp, thơ mộng, rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó.

Đầu súng trăng treo – đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. Giữa núi rừng heo hút rừng hoang sương muối giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao, súng và trăng vốn tương phản với nhau, xa cách nhau vời vợi bỗng hòa quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi, chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới, trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn, soi sáng tình cảm họ, soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây, người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra, anh thả hồn theo trăng, anh say sưa ngắm ánh trăng tỏa ngời trên đỉnh núi, tâm hồn người nông dân nước mặn đồng chua hay đất cày trên sỏi đá cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. Chút nữa đây không biết ai sống chết, chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuốicùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn mặc kệ, vẫn say sưa với ánh trăng.

Ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối, trăng tỏa sáng làm ngời ngời lòng người, trăng như cùng tham gia, cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những người lính. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ, tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn, trong sạch hơn, trăng cũng là bạn, là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ.

Đầu súng trăng treo – hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. Súng và trăng kết hợp nhau; súng tượng trưng cho chiến đấu – trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc; súng là con người – trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến; súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường – trăng là hình ảnh người thi sĩ. Sự kết hợp hài hòa tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng, mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. Họ chiến đấu cho sự thanh bình, chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Ta hãy tưởng tượng xem giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai, nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Đó là biểu tượng khát vọng hòa bình, nó tượng trưng cho tư thế lạc quan, bình tĩnh, lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc.

Cái thần của câu thơ Đầu súng trăng treo nằm ở từ treo, ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá, làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ lên cũng không phù hợp, vì nó là hiện tượng tự nhiên:trăng tròn rồi khuyết, trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ mầu nhiệm nữa. Chỉ có trăng treo. Phải, chỉ có Đầu súng trăng treo mới diễn tả hết được cái hay, cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng đứng chờ giặc tới, chẳng thơ mộng chút nào. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại đêm nay, trong một không gian mà mặt đất là rừng hoang sương muối lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. Ởđây, từ điểm nhìn xa, cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội họa nó mang tính biểu tượng cao. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan, và Phạm Tiến Duật thì Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa, hay Hoàng Hữu Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa – Ai bỏ quên ở phía chân trời…

Như đã nói ở trên, không phải ngẫu nhiên mà Chính Hữu lấy hình ảnh Đầu súng trăng treo làm tựa đề cho tập thơ của mình. Nó là biểu tượng, là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. Lãng mạn nhưng không thoát li, không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Lãng mạn vì con người cần có những phút sống cho riêng mình. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam và hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu là một trong những hình ảnh tuyệt đẹp trong kho tàng thơ ca dân tộc.

Phân tích hình ảnh người chiến sĩ lái xe trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

Gợi ý viết bài

Hình ảnh người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính được thể hiện ở nhiều chi tiết khác nhau

A. Tư thế ung dung hiên ngang:

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

– Từ láy gợi tả ung dung, điệp từ “nhìn”, và nhịp thơ 2/2/2 diễn tả sự thản nhiên, khoan thai, tự tin của người chiến sĩ.

– Điệp từ “nhìn thấy” gợi lên hình ảnh này nối tiếp hình ảnh kia như một khúc phim đang quay

Nhìn thấy…

Nhìn thấy…

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

– Nhịp thơ nhanh thể hiện tâm hồn lạc quan của người chiến sĩ lái xe và hình ảnh nhân hóa làm cho ý thơ thêm sinh động

Gió vào – xoa mắt

Con đường – chạy

Sao trời – sa

Cánh chim – ùa

B. Những cảm giác, ấn tượng của người lái xe trong chiếc xe không kính:

– Ngồi vào buồng lái chiếc-xe không kính, người lái xe nhận rõ những cảm giác: gió như xoa vào mắt cay xè, con đường phía trước ngược chiều như đang chạy thẳng về phía người lái với những rung động thật rõ. Những cảm giác tinh tế này được diễn tả cụ thể và sinh động:

Nhìn thấy gió xoa vào mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim.

– Xe chạy trong đêm, những sao trời như đột ngột sa vào buồng lái. Xe chạy giữa núi rừng, những cánh chim như đột ngột ùa vào buồng lái. Các ngữ động từ “sa vào”, “ùa vào” gây ấn tượng độc đáo: chiếc xe như bềnh bồng trong không gian thiên nhiên hoang dã của núi rừng Trường Sơn.

c. Tinh thần dũng cảm, thái độ bất chấp khó khăn:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

– Lời thơ giản dị, hình ảnh trung thực, nhịp thơ như giọng kể. Tiếng “ừ” vang lên như một lời thách thức, chủ động chấp nhận gian khổ. Hình ảnh so sánh: “tóc trắng như người gia’'. Một kiểu hút thuốc lá nhà binh: phì phèo điếu thuốc. Một tiếng cười hồn nhiên, lạc quan ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa như xối ngoài trời

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô ngay thôi!

– Giọng điệu ngang tàng, tự tin: Không có kính ừ thì… / Chưa cần… thể hiện sự bất chấp khó khăn, xem thường gian nguy của người chiến sĩ lái xe. Sau gió bụi thì mưa. Mưa tuôn, mưa xối mạnh, gợi tả, cho thấy những gian khổ mà người lính phải trải qua. Tuy nhiên, họ vẫn cố gắng vượt khó và lạc quan tin tưởng. Lái trăm cây số nữa và gió lùa khô mau thôi… thể hiện nghị lực, tinh thần vượt khó, bất chấp gian khổ của những người chiến sĩ lái xe.

D. Tình đồng đội:

Những chiếc xe từ trong bom rơi…

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

– Tiểu đội xe không kính dừng quân giữa rừng. Sau những chặng đường đầy mưa bụi và bom đạn, những người chiến sĩ lái xe lại gặp nhau:

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi.

– Hình ảnh tả thực

Bếp Hoàng Cầm…

Chung bát đũa…

Võng mắc chông chênh…

– Điệp ngữ “lại đi”, “lại đi” gợi tả nhịp hành quân khẩn trương của tiểu đội xe không kính.

E. Ý chí chiến đấu vì miền Nam:

Hình ảnh xe không kính, không đèn, không mui xe, thùng xe có xước là một hình ảnh thực. Bom đạn làm biến dạng đi nhưng xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước và chỉ cần trong xe có một trái tim.

Trái tim ở đây là trái tim yêu thương, nồng nàn đốivới đất nước, một trái tim dũng cảm để đương đầu với bao nhiêu cái “không có”.

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Bài thơ về những tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng,

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái.

Gợi ý viết bài

Mở đầu bài thơ là hình ảnh ít thấy: “xe không có kính”. Kết thúc bài thơ là một hình ảnh giàu cảm xúc và ý chí: “Chỉ cần trong xe có một trái tim”. Phải chăng tiểu đội xe không kính ấy lăn bánh thông đường mau lẹ được nhờ những trái tim cầm lái? Chuyện thật vô lí. Xin hãy lắng nghe lời người chiến sĩ lái xe, hãy đọc thơ và suy ngẫm…

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Lời kể hay lời giới thiệu đoàn xe? Ngôn ngữ mộc mạc, nhịp điệu khoan thai mà gợi tả rõ nét. Cứ y như một đoàn xe đang lừng lững tiến lại. Những chiếc xe kì lạ “không có kính chắn gió” – mà thật anh hùng, đang vượt qua chặng đường nguy hiểm, quân thù đánh phá ác liệt: “Bom giật bom rungkính vỡ đi rồi”. Trên những chiếc xe ấy, các chiến sĩ đang vững tay lái. Vừa nhấn ga xe lăn bánh ra trận, các anh vừa kể chuyện mình, về đồng đội:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Nhìn thấy gió vào xoa mát đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái.

Đó là những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết. Không có kính chắn gió bảo vệ, xe lại chạy nhanh, nên người lái xe phải đối mặt với biết bao khó khăn nguy hiểm. Nào là gió vào xoa mắt đắng, nào là con đường chạy thẳng vào tim, rồi sao trên trời, rồi chim dưới đất đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa – rơi rụng, va đập, quăng ném vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình. Dường như chính nhà thơ cũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinh động, cụ thể, ấn tượng, gợi được cảm giác chân thực đến thế. Cảm giác, ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách song người chiến sĩ không run sợ, hoảng hốt. Trái lại, tư thế các anh vẫn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vững vàng… Các anh vẫn “Ung dung buồng lái ta ngồi – Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Hai câu thơ có nhịp thật cân đối: 2/2/2. Đó là sự thăng bằng của chiếc xe đang lăn bánh, sự thanh thản bình tĩnh, tự tin của người lái. Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng… nhìn thấy… thấy… những điệp từ ấy cứ nhấn đi nhấn lại, biểu hiện sự tập trung cao độ của người lái. Hai khổ thơ mở đầu tả thực những khó khăn gian khổ mà những chiến sĩ lái xe Trường Sơn đã trải qua. Trong khó khăn, các anh vẫn bình tĩnh, tự tin, nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm, gan góc đưa hàng ra tiền tuyến. Không có kính chắn gió bảo vệ, đoàn xe vẫn lăn bánh bình thường. Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút trên đường, có chỗ nhịp nhàng, trong sáng như văng vẳng tiếng hát vút cao, vui vẻ.

LUYỆN TẬP

Đề 1. Phát biểu cảm nghĩ của em về người lính cách mạng qua bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

Đề 2. Cảm nhận của em về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

Đề 3. Niềm lạc quan, yêu đời và tinh thần đồng đội, đồng chí được thể hiện rõ trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Em hãy chứng minh nhận định trên.

Đề 4. Phân tích ba câu thơ sau trong bài Đồng chí của Chính Hữu để làm rõ vẻ đẹp của bài thơ:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Đề 5. Kết thúc bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một hình ảnh giàu cảm xúc và ý chí: Chỉ cần trong xe có một trái tim. Em hiểu như thế nào về cách nói này. Hãy liên hệ với nội dung toàn bài để làm rõ giá trị của hình ảnh trên.

Đề 6. Nhận xét về hình ảnh người lính và tình đồng đội của họ trong các bài thơ: Đồng chí của Chính Hữu, Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Ánh trăng của Nguyễn Duy.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Xem thêm:  Giới thiệu một loại quả ở địa phương
LIKE HOẶC +1 ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ


LIKE FANPAGE ĐỂ THEO DÕI


Chia sẻ :